Tại sao dầu tổng hợp lại tốt và đắt hơn dầu gốc khoáng?

Thứ hai - 27/02/2017 16:51
Nguyên nhân Dầu tổng hợp tốt hơn Dầu gốc khoáng nằm ở cấu trúc phân tử của 2 loại dầu nhớt.
Dầu gốc khoáng chứa các phân tử với hình dạng và kích thước khác nhau. Trong khi đó, dầu tổng hợp được tạo thành bởi quá trình kiểm soát nghiêm ngặt và đồng nhất để đạt được những yêu cầu chính xác. Kết quả là:
1. Bôi trơn tốt hơn ở nhiệt độ cao và thấp.
+ Do có chỉ số độ nhớt vượt trội (cho phép độ nhớt ít biến đổi ngay cả khi nhiệt độ làm việc thay đổi mạnh, vì vậy đảm bảo được quá trình bôi trơn).
2. Chịu nhiệt và tản nhiệt hiệu quả.
  Đây là đặc tính thường được đề cập khi nói về dầu tổng hợp. Nhìn chung, dầu tổng hợp hoạt động tốt hơn nhiều so với dầu gốc khoáng ở điều kiện nhiệt độ cao, do một số nguyên nhân chính như sau:
+ Độ bền nhiệt, chỉ số độ nhớt (Viscosity Index): Bền nhiệt, bền với các tác nhân ôxi hóa (do vậy  tuổi thọ dầu cao hơn) liên quan đến tuổi thọ và độ ổn định dầu nhớt khi đưa vào dụng, Khoảng nhiệt độ làm việc rộng hơn từ -55°C đến 320°C.
+ Dầu tổng hợp có điểm chớp cháy cao hơn nhiều so với dầu gốc khoáng. Điểm chớp cháy (flash point) là nhiệt độ mà nhớt bắt đầu bay hơi và bắt cháy khi có tia lửa. Điểm chớp cháy càng cao thì dầu càng bền trong điều kiện nhiệt độ khắc nghiệt. Các loại dầu tổng hợp / bán tổng hợp phải có điểm chớp cháy từ 200oC trở lên.
+ Dầu tổng hợp được cấu thành từ những phân tử có độ đồng nhất cao về mặt kích thước, nhờ đó lực “ma sát nội chất lỏng” nhỏ hơn nhiều so với dầu gốc khoáng (có kích cỡ các phân tử không đều nhau). Ma sát nội thấp giúp làm giảm lượng nhiệt phát sinh trong quá trình bơm dầu, góp phần làm giảm nhiệt độ đầu nén.
+ Ngoài ra, kích thước phân tử đồng nhất của dầu tổng hợp còn giúp tránh được hiện tượng “hiệu ứng nhà kính” thường gặp ở dầu khoáng. Hiện tượng này được giải thích như sau: trong quá trình chuyển động của dầu khoáng, dưới tác dụng của lực, các phân tử kích thước nhỏ thường di chuyển tự do ở phía trong dòng chất lỏng, trong khi các phân tử kích thước lớn hơn bị dồn đến phía rìa của dòng chất lỏng. Các phân tử kích thước lớn này tạo thành lớp màng truyền nhiệt kém, ngăn cản quá trình tải nhiệt về lớp dầu bên trong, làm giảm hiệu quả làm mát.
Kết quả cuối cùng có thể nhận thấy là dầu tổng hợp có thể làm giảm nhiệt máy nén từ 5 đến 10 độ C so với dầu khoáng. Nhờ đó tăng đáng kể tuổi thọ máy nén, đồng thời giảm tải và kéo dài tuổi thọ dầu.
3. Hạn chế tạo cặn.
+ Dầu khoáng là sản phẩm của quá trình tinh chế dầu mỏ: Tinh chế (refining) là quá trình được thiết kế là quá trình tách bỏ các tạp chất ra khỏi thành phẩm. Tuy nhiên, tinh chế ở mức độ tinh khiết cao sẽ làm tăng giá thành sản phẩm. Do đó, các nhà sản xuất dầu gốc chỉ duy trì một mức độ tinh khiết “chấp nhận được” và trong thành phẩm dầu khoáng vẫn có một tỉ lệ tạp chất nhất định. Khi dầu bị cháy, các tạp chất trong dầu sẽ đóng lại trên bề mặt trục vít. Do dầu khoáng dễ bị phân hủy nhiệt và chứa nhiều tạp chất hơn dầu tổng hợp, nó tạo ra lượng cặn nhiều hơn.
+ Ngược lại, dầu tổng hợp không chứa tạp chất. Tất cả các thành phần của dầu tổng hợp đều được kiểm soát và thứ duy nhất được bổ sung vào thành phẩm là các phụ gia tăng cường tính năng được bổ sung theo đúng công thức pha chế.
4. Độ bay hơi thấp: do đó ít tiêu hao hơn khi sử dụng.
5. Không hòa tan lẫn trong nước.
6. Giảm ma sát tối ưu giúp tăng cường công suất động cơ.
7. Tăng khả năng làm sạch và bảo vệ động cơ tối ưu.
8. Mang lại khả năng tiết kiệm nhiên liệu.
9.  Kéo dài chu kỳ ( thời gian) thay dầu.
+ Tăng tính bền vững và tuổi thọ dầu nhớt - kéo dài thời gian thay nhớt. Một số chủ đầu tư có thể sẽ không muốn sử dụng dầu nhớt tổng hợp bởi giá cao. Nhưng nếu sử dụng dầu tổng hợp thì độ bền nhiệt cao giúp dầu nhớt tổng hợp có thể kéo dài thời gian sử dụng đến ba lần so với dầu gốc khoáng.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Bình luận